Tìm kiếm

Hiển thị các bài đăng có nhãn Y Khoa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Y Khoa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 18 tháng 7, 2011

Y Học : Chứng Đục Thủy Tinh Thể

 

BS.Trần Lý Lê
Chứng Đục Thủy Tinh Thể hay "Cataract" còn gọi là "Lens opacity".

Thủy tinh thể trong mắt thường trong suốt như thủy tinh, khi thủy tinh thể trở nên đục thường gây giảm thị lực. Người bị đục thủy tinh thể nhìn vật thể qua một màn sương mù, sương mù càng dày, vật thể càng mờ nhạt. Khi đục thủy tinh thể đến mức trầm trọng, ta cần đến giải phẫu. Đây là một cách chữa trị hiệu quả dễ dàng và an toàn.

Dấu hiệu và triệu chứng
• Giảm thị lực, vật thể mờ nhạt, không rõ
• Khó trông thấy vật thể vào buổi tối
• Ánh sáng gay chói mắt, khó chịu
• Vật thể có vòng ánh sáng chung quanh ("halos")
• Bác sĩ cần đổi kính hoặc kính áp tròng thường xuyên
• Màu sắc trở nên "vàng" hoặc mờ nhạt
• Nhìn ra hình đôi

Thoạt tiên, sự vẩn đục chỉ ảnh hưởng đến phần nhỏ của thủy tinh thể nên ta thường không nhận ra sự sút giảm thị lực. Khi mức vẩn đục gia tăng, ánh sáng đi qua mắt bị méo mó và vật thể trở nên mờ nhạt. Lúc ấy, triệu chứng rõ ràng hơn.

Khi nào thi cần khám mắt?
Khi thấy thị lực thay đổi, hãy đi khám mắt và đi khám mắt ngay khi vật thể mờ nhạt hoặc thành hình đôi.

Nguyên nhân
Đục thủy tinh thể xuất hiện từ từ vào tuổi già hoặc do thương tổn tạo ra sự thay đổi tại các tế bào thủy tinh thể. Hiếm khi chứng đục thủy tinh thể xuất hiện khi chào đời trong trẻ sơ sinh; tình trạng này gọi là "congenital cataracts".
Thị lực giảm từ từ cho đến khi mờ hẳn, không gây đau đớn và thường xuất hiện trong cùng gia tộc.

Đục thủy tinh thể xuất phát và tiến triển nhanh hơn trong những người hút thuốc, bị nhiễm độc hoặc tắm nắng thường xuyên. Chứng tiểu đường khiến đục thủy tinh thể phát nhanh chóng. Thuốc men như cortisone gia tăng đục thủy tinh thể nhanh chóng.

Sự vẩn đục thủy tinh thể thành hình ra sao?
Thủy tinh thể nằm sau iris (phần nâu đen trong mắt). Thủy tinh thể hội tụ các tia sáng chiếu đến mắt taọ ra hình ảnh rõ ràng trên võng mạc (màng thu nhận ánh sáng trong mắt, hoạt động như phim trong máy chụp ảnh).
http://i391.photobucket.com/albums/oo360/Yhoc2008/cataract.gif

Khi thủy tinh thể bị vẩn đục, ánh sáng tản ra khiến hình ảnh mang tới võng mạc không còn rõ nữa. Hậu quả là thị lực bị giảm sút.
Khi lớn tuổi, thủy tinh thể trở nên bớt dẻo, bớt trong và dày thêm. Do đó, tế bào thủy tinh thể dễ hư hoại và đóng cục, tạo ra những vẩn đục. Khi các vẩn đục này tiếp tục tăng trưởng và dày hơn, thị lực càng sút giảm.
Đục thủy tinh thể có thể xảy trong 1 hoặc cả 2 mắt.

Các loại đục thủy tinh thể

• Đục thủy tinh thể tại tâm điểm của mắt (nuclear cataracts). Chứng bệnh này gây cận thị, đôi khi thị lực khá hơn trong một giai đoạn ngắn nhưng qua thời gian, thủy tinh thể trở nên vàng đục và ngăn ánh sáng hoàn toàn. Nuclear cataract tạo ra hình ảnh đôi hoặc ba, bốn lần (một vật thể nhìn ra như 2, 4 vật thể). Khi căn bệnh tiến triển, vẩn đục trở thành nâu, người bệnh không còn phân biệt được màu sắc nữa.
• Đục thủy tinh thể xuất hiện tại bìa (rìa) mắt (cortical cataracts). Chứng bệnh này bắt đầu bằng vẩn trắng hình nón hoặc một vệt trắng tại rìa mắt; khi gia tăng, các vệt trắng này tiến dần vào tâm điểm của mắt và "bẻ cong" các tia ánh sáng gây chói mắt rất khó chịu.
• Đục thủy tinh thể xuất hiện tại mặt sau (posterior subcapsular cataracts). Chứng bệnh này khởi đầu bằng một vẩn đục nhỏ, trên đường đi của ánh sáng từ thủy tinh thể đến võng mạc. Subcapsular cataract ảnh hưởng đến thị lực rất nhiều gây mờ mắt, chói mắt khi ra ánh sáng và tạo ra vòng tròn mờ quanh tia sáng (halo) vào buổi tối.
• Đục thủy tinh thể bẩm sinh (congenital cataracts). Đục thủy tinh thể xuất hiện khi chào đời hay trong thời niên thiếu. Loại đục thủy tinh thể có thể do việc nhiễm trùng cùa người mẹ trong thai kỳ hoặc do di tính như bệnh Alport's syndrome, Fabry's disease và galactosemia (galactose, một loại đường, gia tăng trong máu). Chứng đục thủy tinh thể bẩm sinh có thể không gây mờ mắt và không cần chữa trị cho đến khi giảm thị lực.

Các yếu tố gia tăng tỷ lệ bị đục thủy tinh thể
• Tuổi tác
• Tiểu đường
• Uống quá nhiều rượu
• Dãi nắng thường xuyên
• Tiếp xúc với chất phóng xạ
• Thân nhân bị đục thủy tinh thể
• Cao huyết áp
• Mập phì
• Thương tổn hoặc viêm mắt
• Giải phẫu tại mắt
• Dùng dược phẩm chứa corticosteroid quá lâu
• Hút thuốc

Sửa soạn khi đi khám bệnh
Nên sửa soạn khi đi khám mắt; nếu bị đục thủy tinh thể, bạn sẽ cần gặp bác sĩ nhãn khoa người có khả năng thực hiện một cuộc giải phẫu tại mắt (ophthalmologist, không phải optometrist).
• Ghi chép rõ ràng chi tiết các triệu chứng, kể cả những triệu chứng dường như không liên qan gì đến mắt.
• Ghi chép các chi tiết cá nhân, những thay đổi trong đời sống và cả bệnh tật của thân nhân.
• Lập danh sách các món thuốc đang dùng kể cả sinh tố, dinh dưỡng phụ và dược thảo.
• Nếu cần, đi khám mắt cùng thân nhân.
• Viết sẵn các điều muốn hỏi bác sĩ.

Những điều nên hỏi có thể bao gồm
• Đục thủy tinh thể gây ra trở ngại tôi đang gặp?
• Nguyên nhân nào khác gây ra các triệu chứng này?
• Tôi sẽ cần các loại thử nghiệm nào?
• Tôi có cần giải phẫu không?
• Cuộc giải phẫu sẽ phục hồi thị lực?
• Có rủi ro nào khi giải phẫu?
• Tôi có thể lái xe sau khi mổ không?
• Thời gian phục hồi là bao lâu?
• Tôi có cần thay đổi sinh hoạt hàng ngày không? Bớt hoạt động trong bao lâu?
• Sau khi giải phẫu, tôi cần chờ bao lâu mới thay kính mắt?
• Medicare có trả chi phí giải phẫu không? Medicare có trả tiền thay kính mới không?
• Tôi có thể chần chờ bao lâu để quyết định về giải phẫu?
• Nếu tôi chờ đợi 1 năm thì ảnh hưởng đến giải phẫu ra sao?
• Nếu không mổ tôi cần làm gì để giúp nhìn rõ hơn?
• Làm thế nào để biết là đục thủy tinh thể đã trở nặng?
• Tôi có những chứng bệnh ..., làm thế nào để phối hợp các thuốc men cần thiết?
• Tôi có cần theo một cách chăm sóc đặc biệt nào không?
• Tôi có cần gặp bác sĩ chuyên khoa? Chi phí là bao nhiêu, bảo hiểm của tôi có trả không?
• Có tài liệu nào để tôi đọc thêm không? Tranh nhà nào có những tin tức về đục thủy tinh thể?
• Khi nào thì tôi cần tái khám?

Đặt câu hỏi, hỏi lại nếu bạn chưa hiểu rõ về bất cứ chi tiết nào.

Bác sĩ sẽ hỏi một số câu hỏi như
• Triệu chứng bắt đầu khi nào?
• Triệu chứng xuất hiện liên tục hay chỉ thỉnh thoảng?
• Có triệu chứng nào không vào buổi tối?
• Các triệu chứng nặng nhẹ ra sao?
• Triệu chứng này có gây khó khăn khi lái xe không? Khi đọc sách báo? Khi làm việc?
• Đã mổ mắt bao giờ chưa?
• Đã bị thương tại mắt?
• Đã bị viêm mắt như iritis?
• Đã chịu xạ trị đến đầu cổ?
• Đang dùng các thuốc men nào?

Chẩn bệnh & Thử nghiệm
Bác sĩ có thể thực hiện các thử nghiệm sau:
- Đọc bảng chữ / số để đo mức rõ của thị lực (visual acuity test). Mỗi mặt được thử riêng. Cách đo này cho biết thị lực của mắt, có hoàn hảo 20/20 hay không.
- Bác sĩ dùng kính hiển vi để quan sát các cấu trúc trong mắt (slit-lamp examination) như giác mạc (cornea), iris, thủy tinh thể (lens), và các khoảng trống giữa iris và giác mạc.
• Bác sĩ dùng thuốc để đồng tử (con ngươi) nở lớn và quan sát võng mạc (retinal examination).

Cách chữa trị đục thủy tinh thể hiệu quả nhất là giải phẫu.

Khi nào thì nên mổ
Hãy thảo luận với bác sĩ xem giải phẫu có thích họp cho bạn không. Hầu hết các bác sĩ đều đề nghị mổ khi thị lực giảm sút đến mức ảnh hưởng đến đời sống hàng ngày hay công việc làm ăn, nhất là lái xe ban đêm.
Việc chờ đợi thường không ảnh hưởng đến cuộc giải phẫu hay sự phục hồi thị lực hậu giải phẫu. Vì vậy nên suy nghĩ thiệt hơn cẩn thận và thảo luận các chi tiết với bác sĩ của mình.
Nếu chọn việc chờ đợi nên khám mắt định kỳ để bác sĩ tiện theo dõi.

Giải phẫu chữa trị đục thủy tinh thể
http://i391.photobucket.com/albums/oo360/Yhoc2008/cataract-surgery.jpg

Bác sĩ cắt bỏ thủy tinh thể đã vẩn đục và ghép thủy tinh thể nhân tạo vào mắt.
Với một số bệnh nhân, các chứng bệnh trong mắt sẽ khiến việc ghép kính không thể thực hiện được. Trong trường hợp này, khi vẩn đục ược cắt bỏ, người bệnh dùng kính để phục hồi thị lực.
Bác sĩ mổ mỗi mắt một lần, chờ vài tuần lễ phục hồi rồi mổ mắt còn lại. Cuộc giải phẫu thực hiện tại trung tâm y khoa, bệnh nhân ra về sau khi mổ, không cần ở lại bệnh viện.
Khi mổ, bác sĩ dùng thuốc tê và bệnh nhân thức. Đây là cuộc giải phẫu tương đối dễ dàng, an toàn hiếm khi có biến chứng như xuất huyết hoặc nhiễm trùng. Giải phẫu thủy tinh thể gia tăng sự rủi ro bong võng mạc (retinal detachment).

Sinh hoạt hàng ngày
Để tiết giảm các khó khăn từ chứng đục thủy tinh thể, bạn có thể:
• Dùng kính / kính áp tròng đúng độ
• Dùng kính phóng đại khi đọc
• Trong nhà, dùng đèn sáng
• Đeo kính mát hay đội mũ nón khi ra nắng để giảm chói mắt
• Bớt / tránh lái xe vào ban đêm

Phòng ngừa
Dù chưa biết chắc chắn nguyên nhân nhưng ta có thể phòng ngừa đục thủy tinh thể bằng cách:
• Khám mắt định kỳ, khám mắt sẽ giúp tìm ra bệnh trạng sớm hơn.
• Ngưng hút thuốc.
• Đeo kính. Tia cực tím từ ánh nắng có thể gây đục thủy tinh thể.
• Chữa trị đúng mức các chứng bệnh khác như tiểu đường, cao huyết áp. Các chứng bệnh này có thể gia tăng rủi ro bị đục thủy tinh thể.
• Giữ trọng lượng cơ thể ở mức trung bình. Nếu bị mập phì, cần giảm cân.
• Chọn thức ăn uống đủ chất dinh dưỡng bao gồm cả rau và trái cây.


*Tài liệu của Mayo Clinic, MedicineNet

Y Học : Bài thuốc hữu hiệu để giảm : máu cao, mỡ cao, cholesterol

 

Một độc giả tốt lành giới thiệu bài thuốc quí, chính đương sự cũng như mẹ và em đã uống trong 3 tháng qua, kết quả trông thấy. Sau đây là lời của đương sự:
"Xin giới thiệu cách chữa trị hữu hiệu nhất để chữa bệnh máu cao, mỡ cao, cholesterol mà tôi đã làm cho chính tôi cũng như em gái và mẹ già của tôi trong 3 tháng qua. Kết quả như "Thần dược". Dễ dàng, không tốn kém và bảo đảm sức khỏe...
Chất liệu:
1- Tỏi để cả vỏ (100gr)
2- Đậu trắng (white bean) (100gr)
Cách làm:
Đậu trắng rửa sạch, tỏi rửa sạch.
Cho chung vào nồi với 2 lít nước.
Nấu sôi, hạ lửa nhỏ, ninh thật lâu (khoảng 3 tiếng thì nước sẽ cạn, còn lại chừng 1/8 của 2 lít nước (chừng một chén ăn cơm).
Cách ăn:
Bỏ vỏ tỏi đi, quấy đều tỏi và đậu, để nguội rồi ăn hết.
Mỗi tháng ăn một lần. Bảo đảm sau 2 lần kết quả thấy rõ đến 100%.
Hiệu quả cho người tặng bài thuốc này:
- Đầu năm nay tôi đi thử tổng quát hàng năm. Lần đầu tiên trong đời, áp huyết tăng vọt cách lạ thường, chưa từng thấy: 147/93. BS quýnh lên sợ tôi sẽ bị vỡ mạch máu não như Thân Phụ của tôi trước đây. BS cho 2 loại thuốc để uống mỗi ngày, không được tự ý bỏ, hoặc ngưng trước khi tái khám trong 2 tuần lễ kế tiếp. Tôi buồn lắm, vì biết chắc nếu uống thuốc này tức là phải uống for life (cả đời), không được tự ý bỏ.
Thình lình tôi lên Internet và đọc được bài thuốc này.
Chiều hôm đó tôi mua tỏi, đậu trắng về nấu ngay không chần chờ thêm nữa. Sáng hôm sau khi thức dậy, tôi thấy nhẹ nhàng, không đau đầu như mọi khi. Tai và mặt không thấy đỏ ửng và nóng bừng bừng như ngày hôm trước. Tôi mừng quá, nhưng chưa nói ra với ai cả. Tôi mượn máy đo áp huyết của mẹ tôi rồi tự đo xem như thế nào? Tôi thấy ngay huyết áp hạ xuống còn 135/87.
Thời gian này tôi có mua thuốc hạ áp huyết theo toa BS cho nhưng KHÔNG UỐNG 1 viên nào cả. Hai(2) tuần sau tái khám, BS rất ngạc nhiên và nói là thuốc đã worked good (kết quả tốt), áp huyết 130/85. BS bảo tôi trở lại sau 2 tuần tức là 1 tháng sau khi tôi uống tỏi và đậu trắng. Tôi vẫn không nói cho BS biết là tôi không uống thuốc BS đã cho toa. Lần này thì áp huyết là 120/80.
Thế rồi 2 tháng sau tôi trở lại BS và áp huyết của tôi là 100/76. BS bảo, great news!!!(tin mừng lớn). Tôi không thể giấu BS được nên đã nói ra là tôi chưa uống thuốc Tây BS cho, nhưng tự chữa bằng tỏi và đậu trắng. BS tròn 2 mắt, há miệng thật to và không biết phép lạ nào đã xảy ra cho tôi. Vừa qua tôi tái khám và độ áp huyết vẫn ở 100/76, tức là 4 tháng qua áp huyết không thay đổi, đúng như lời người đàn bà đã truyền bí quyết này trên Internet.
Có lẽ nhờ tỏi và đậu trắng mà tôi không có Cholesterol, Sugar trong máu cũng như tim, gan, thận, Potassium...rất tốt. Tôi đã làm cho cả mẹ và em của tôi cũng uống. Em tôi đo còn 120/80, mẹ tôi đo còn 110/65. Cả 2 mới uống thử 2 lần thôi.
Đặc biệt là tỏi nấu với đậu trắng uống xong không nghe tanh, hôi gì cả. Hơi thở vẫn trong sạch và mồ hôi cũng không khác biệt.

Y Học : Những Điều Khám Phá về Vitamin D

 

Những Điều Khám Phá về Vitamin D
Ảnh Hưởng Đến Sức Khỏe Con Người Ra Sao ?
Chúng ta đều biết cơ thể con người rất cần Vitamin D để khung xương được khỏe mạnh, vững chắc. Bên cạnh đó, nếu thiếu Vitamin D cơ thể sẽ có nhiều nguy cơ mắc hàng loạt bệnh như ung thư, trầm cảm, tim mạch, tiểu đường, tăng cân, hen suyễn…Hãy xem những khám phá của các nhà nghiên cứu tại sao Vitamin D là một trong những thành phần quan trọng nuôi dưỡng tốt cho sức khỏe của bạn , những ai dễ bị thiếu hụt loại vitamin này, cách an toàn nhất để nạp đủ lượng Vitamin D vào cơ thể ?
Vitamin D và bộ xương của bạn
Vitamin D giúp cơ thể bạn hấp thụ Calcium. Nếu không có Vitamin D thì khung xương của bạn dễ bị mềm yếu . Ở người trưởng thành, quá ít vitamin D có thể dẫn đến xương bị thay đổi và loãng xương. Ở trẻ em, thiếu hụt Vitamin D dễ gây ra tình trạng còi xương, các bệnh tật về xương, đây là một vấn đề lớn trong sức khỏe cộng đồng. Hãy uống sữa để bổ sung nguồn Vitamin D giúp loại trừ các rối loạn về xương. Dưới đây là một mẫu hình ma trận xương xốp bình thường .
Vitamin D với Bệnh Tim và Bệnh Trầm Cảm
Lượng Vitamin D thấp trong máu sẽ ảnh hưởng đến bộ xương của bạn. Các công trình nghiên cứu mới nhận định lượng Vitamin D trong máu quá thấp sẽ gây ra những căn bệnh về tim và bệnh trầm cảm ở người trưởng thành. Những quý vị có bổ sung Vitamin D thì sẽ có 7% ít bị nguy cơ tử vong hơn những vị không dùng supplement hay một bổ sung nào khác , theo một nghiên cứu cho biết. Ở trẻ em, các nhà nghiên cứu đã tìm thấy bệnh suyễn trầm trọng hơn khi mức độ vitamin D thấp .

Vitamin D được hấp thu qua da từ ánh nắng mắt trời
Một cách tuyệt vời nhất mà bạn không bao giờ phải lo lắng về việc thiếu Vitamin D đó là bạn hãy phơi làn da của mình dưới ánh nắng mặt trời lúc ban mai khoản từ 15-30 phút mỗi ngày . Cơ thể của bạn sẽ hấp thụ và sản xuất ra được Vitamin D từ ánh nắng mặt trời này . Bạn hãy cẩn thận với tia UV từ ánh nắng mặt trời , chúng cũng sản xuất ra Vitamin D trong cơ thể bạn nhưng sẽ gây ung thư da. Các chuyên gia không khuyến khích chúng ta phơi nắng quá lâu dưới ánh nắng mặt trời lúc nắng gay gắt.
Ai có nguy cơ bị thiếu Vitamin D ?
Các nhà nghiên cứu tìm thấy sự thiếu hụt vitamin D có thể ảnh hưởng đến sức khỏe người lớn, trẻ sơ sinh, trẻ em và thanh thiếu niên. Chế độ ăn kiêng của bạn có thể làm tăng nguy cơ nếu trong thực phẩm bạn dùng hàng ngày thiếu sữa hoặc lượng Vitamin D quá thấp, thí dụ thiếu cá hoặc trứng. Hầu như những quý vị có liều Vitamin D thấp trong máu thường không để ý đến các triệu chứng của việc thiếu Vitamin D.
Những quý vị dễ bị thiếu hụt Vitamin D gồm :
- quý vị bị béo phì
- quý vị bị rối loạn tiêu hóa
Vitamin D và Bệnh huyết áp
Sự kết hợp giữa việc thiếu Vitamin D và tăng huyết áp cao có thể dẫn đến nguy cơ tử vong. Theo một công trình nghiên cứu kết hợp khảo sát , những quý vị bị tăng huyết áp và liều Vitamin D thấp trong máu có nguy cơ gấp đôi mắc bệnh tim hơn những quý vị khác. Việc thiếu vitamin D không liên quan đến vấn đề tim mạch ở những người không có tăng huyết áp.
Vitamin D và Ung thư vú
Vitamin D thấp có thể làm xấu đi tiên lượng cho phụ nữ bị ung thư vú. Theo kết quả một công trình nghiên cứu mới, những phụ nữ bị thiếu Vitamin D được chẩn đoán có 94% nguy cơ mắc bệnh ung thư lan rộng. Họ cũng có 73% nguy cơ tử vong trong 10 năm kế tiếp. Những công trình nghiên cứu khác bổ sung thêm nhận định Vitamin D có thể giúp bảo vệ cơ thể chống lại sự phát triển của tế bào ung thư vú.
Vitamin D và những căn bệnh ung thư khác
Vitamin D còn có thể giúp chống lại ít nhất hai căn bệnh ung thư khác, đó là ung thư ruột và ung thư tiền liệt tuyến. Tuy nhiên, vitamin D không phải là một viên đạn ảo thuật giúp giải quyết được tất cả bệnh tật.
Vitamin D với bệnh mập phì
Sau tuổi mãn kinh, hầu hết phụ nữ thường tăng cân. Theo một cuộc nghiên cứu cho thấy những phụ nữ có dùng viên bổ sung / hoặc thực phẩm dinh dưỡng bổ sung Vitamin D và Calcium có thể giúp làm chậm quá trình tăng cân; những phụ nữ không bổ sung đủ 2 loại Vitamin D và Calcium thì sẽ có nhiều nguy cơ bị mập phì .
Vitamin D với trẻ nhỏ
Kết quả các cuộc nghiên cứu cho biết : Trẻ em nhận được đầy đủ Vitamin D từ ánh nắng mặt trời hoặc từ các thực phẩm bổ dưỡng có chứa Vitamin D có thể giúp giảm nguy cơ phát triển bệnh tiểu đường type-1. Đối với những trẻ thiếu Vitamin D cũng thường dễ mắc bệnh hen suyễn nhiều hơn.
Hãy bắt đầu ngày mới của bạn với việc bổ sung Vitamin D
Một trong những cách hữu hiệu để bổ sung Vitamin D là thông qua chế độ ăn uống hàng ngày. Tại Hoa Kỳ, hầu hết tất cả các loại sữa và orange juice thường có chứa hàm lượng Vitamin D. Bạn cũng có thể dùng điểm tâm kết hợp với sữa bột ngũ cốc để bổ sung Vitamin D. Hãy thực hiện “D day” trong mỗi bữa điểm tâm của bạn nhé !
Vitamin D at Dinner
Các loại cá, đặc biệt là fatty fish như cá hồi (salmon), cá ngừ (tuna), cá thu (mackerel), cá mòi (sardines) …là một trong những nguồn rất giàu Vitamin D . trong 3-ounce của cá hồi nấu chín có thể cung cấp gần 200% giá trị hàng ngày được đề nghị của vitamin D.
Vitamin D có trong Trứng , Cheese..
nguồn thực phẩm khác của vitamin D có chứa trong lòng đỏ trứng, dầu gan cá, gan bò, bơ thực vật, sữa chua, và một số loại pho mát.
Viên thuốc bổ sung Vitamin D
Hầu hết người Mỹ đã có đủ vitamin D trong máu để có sức khỏe cho bộ xương tốt. Đối với những người muốn hoặc cần phải tăng cường lượng vitamin D, viên thuốc bổ sung cũng là một lựa chọn. Hầu hết những viên thuốc multivitamin có chứa 400 IU Vitamin D. Bạn cũng có thể tìm thấy những viên thuốc có hàm lượng Vitamin D cao hơn kết hợp với Calcium.
Vitamin D2 hoặc D3 ?
Vitamin D dưới dạng supplements có 2 loại : Vitamin D2 và D3 . Cả hai hình thức đều có hiệu quả, và có thể được thực hiện để đảm bảo cung cấp đủ vitamin D. Nhưng D2 không tương đương với D3. D3 là loại vitamin D cơ thể có thể tổng hợp được, và các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng D3 có thể lên đến ba lần hiệu quả hơn trong việc nâng cao mức độ vitamin D một cách nhanh chóng và ở lại trong cơ thể lâu hơn.
Cơ thể cần bao nhiêu Vitamin D là đủ ?
Bao nhiêu vitamin D bạn cần phải phụ thuộc vào tuổi và các yếu tố nguy cơ. Theo khuyến nghị của các chuyên gia thuộc viện nghiên cứu Y khoa, bạn nên bổ sung lượng Vitamin D như sau :
Người trưởng thành đến <70 tuổi : 600 IU mỗi ngày
Người >70 tuổi : 800 IU mỗi ngày
Nhiều nhà nghiên cứu đưa lời khuyên nạp nhiều lượng Vitamin D hơn để có lợi cho sức khỏe, nhưng xin thưa nạp quá nhiều Vitamin D sẽ gây tổn hại cho sức khỏe của bạn. Trên 4,000IU mỗi ngày sẽ có nhiều nguy cơ gia tăng gây hại, một kết luận của the Institue of Medicine cho biết.
Liều lượng Vitamin D hàng ngày cho Trẻ bú sữa mẹ
Sữa mẹ cung cấp nhiều lợi ích cho trẻ sơ sinh, nhưng nó không phải là nguồn cho vitamin D. Viện Hàn lâm Nhi khoa Mỹ (AAP) khuyến cáo tất cả trẻ sơ sinh bú sữa mẹ được bổ sung 400 IU vitamin D mỗi ngày bắt đầu ngay sau khi sinh và tiếp tục cho đến khi trẻ được cai sữa và uống ít nhất 1.000 ml sữa công thức có bổ sung vitamin D hoặc sữa nguyên chất. Các giới hạn 1.000 IU cho trẻ 0-6 tháng tuổi và 1.500 IU cho trẻ 6-12 tháng tuổi.
Hãy xét nghiệm máu để kiểm tra lượng Vitamin D
Có một loại xét nghiệm máu đơn giản - đó là test 25 hydroxyvitamin D – bác sĩ sẽ chỉ định kiểm tra lượng Vitamin D trong máu cơ thể của bạn. hướng dẫn chỉ ra rằng bạn có nhận được đủ vitamin D để giữ cho xương của bạn khỏe mạnh hay không khi mức độ máu của bạn là 20 nanogram / ml (ng / mL) hoặc cao hơn. Công trình nghiên cứu đang tiếp tục tìm hiểu vitamin D trong máu có thể ảnh hưởng đến các khía cạnh nào khác của sức khỏe nữa hay không.
Bao nhiêu Vitamin D là quá nhiều ?
Viện Y khoa khuyến nghị cho người lớn rằng một lượng hàng ngày lên đến 4.000 IU vitamin D là an toàn. Hơn 10.000 IU / ngày có thể gây ra thiệt hại thận và mô. Cách tốt nhất là hãy check sức khỏe của bạn với nhà sản xuất Vitamin D supplements.

Y Học : BỆNH CAO ÁP HUYẾT (Hypertension)

BS. Nguyễn Văn Đức


Bệnh cao áp huyết xảy ra rất nhiều. Riêng tại Mỹ (nay trên 300 triệu cư dân), khoảng 58-65 triệu người mang bệnh cao áp huyết, như vậy, tính ra cứ 5 người ở Mỹ, có một vị cao áp huyết.
Cao áp huyết (hypertension, high blood pressure) nguy hiểm, đưa đến những biến chứng như tai biến mạch máu não (stroke), chết cơ tim cấp tính (heart attack), suy tim, suy thận. Cao áp huyết còn rút ngắn tuổi thọ. Khổ cái, trong đa số các trường hợp, cao áp huyết không gây triệu chứng. Nhiều vị không biết mình mang bệnh, tình cờ đi thăm bác sĩ vì một lý do gì khác, được bác sĩ cho biết có cao áp huyết. Cho nên, cao áp huyết nổi danh là một “căn bệnh thầm lặng”.
Cao áp huyết là gì?
Con tim bơm máu đi nuôi các cơ quan của cơ thể qua những hệ thống mạch máu gọi là động mạch. Ví như một máy bơm nước đẩy nước qua các ống dẫn. Khi máu được tim bơm đẩy, và chảy trong lòng các mạch máu, sức ép của máu vào thành mạch máu sẽ tạo một áp suất (pressure) gọi là áp huyết (blood pressure). Áp huyết thay đổi tùy lúc, và tùy các hoạt động của cơ thể. Áp huyết xuống thấp hơn lúc ta ngủ, nghỉ và lên cao hơn khi tinh thần ta kích động, buồn bực hoặc trong lúc ta tập thể dục, chơi thể thao.
Áp huyết được diễn tả bằng 2 số, thí dụ: 140/90. Số trên (140) được gọi là áp suất systolic (áp suất tâm thu): sức ép của máu vào lòng động mạch mỗi khi tim co bóp để bơm máu ra khỏi tim. Số dưới (90) được gọi áp suất diastolic (áp suất tâm trương): áp suất trong lòng động mạch khi tim dãn ra giữa hai nhịp co bóp.
Số trên tượng trưng áp suất cực đại (maximum) trong lòng động mạch, và số dưới tượng trưng áp suất cực tiểu (minimum) trong lòng động mạch.
Theo sự phân loại mới, áp suất systolic bình thường dưới 120 và áp suất diastolic dưới 80. Áp huyết từ 140/90 trở lên được xem là cao (đo ít nhất 2 lần, vào ít nhất 3 dịp thăm khám khác nhau); cao độ 1: áp suất systolic: 140 đến 159, áp suất diastolic: 90 đến 99; cao độ 2: áp suất systolic: từ 160 trở lên, áp suất diastolic: từ 100 trở lên.
Những vị có áp suất systolic trong khoảng từ 120 đến 139, hoặc áp suất diastolic từ 80 đến 89, nay được xem là tiền cao áp huyết (prehypertension), sau dễ tiến đến cao áp huyết.
Như vậy, để tóm tắt:
-
Áp huyết bình thường: áp suất systolic dưới 120 và áp suất diastolic dưới 80
- Tiền cao áp huyết: áp suất systolic 120-139 hay áp suất diastolic 80-89
-
Cao áp huyết:
+ Độ 1: áp suất systolic 140-159 hay áp suất diastolic 90-99
+ Độ 2: áp suất systolic từ 160 trở lên hay áp suất diastolic từ 100 trở lên.
Nguyên nhân
Đến 90% các trường hợp cao áp huyết, nguyên nhân khiến bệnh xuất hiện chưa được biết rõ, hoặc nói cách khác, với trình độ y khoa hiện tại, người ta chưa tìm ra được nguyên nhân gây bệnh.
Có một số yếu tố ảnh hưởng, khiến chúng ta dễ mang bệnh cao áp huyết:
- Tuổi tác: càng cao tuổi, nhất là khi trên 60, chúng ta càng dễ cao áp huyết.
- Yếu tố gia đình: cao áp huyết có tính di truyền. Có cha mẹ, anh em ruột cao áp huyết, đi khám bác sĩ, bạn nhớ cho bác sĩ biết điều này bạn.
- Giòng giống: người da đen hay cao áp huyết hơn người da trắng, và bệnh cao áp huyết ở người da đen cũng nặng hơn.
- Béo mập: khi sức nặng của ta trên sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người 30% trở lên.
- Cao mỡ trong máu: người cao mỡ trong máu dễ bị cao áp huyết hơn người không cao mỡ trong máu.
- Rượu: các khảo cứu cho thấy rượu uống nhiều và thường xuyên có thể đưa đến cao áp huyết, đồng thời cũng làm tăng tỉ lệ bị tai biến mạch máu não và bệnh thận.
- Đời sống thiếu vận động: đời sống thiếu vận động có thể đưa đến cao áp huyết. Ngược lại, thường xuyên vận động giúp ngừa bệnh cao áp huyết.
- Ăn mặn: ăn mặn, dùng thức ăn chứa nhiều muối cũng là một yếu tố có thể làm chúng ta dễ cao áp huyết. Cơ thể một số người chúng ta có khuynh hướng nhạy ứng với muối khiến áp huyết dần tăng cao.
Một số nhỏ các trường hợp cao áp huyết gây do uống rượu nhiều quá, bệnh của tuyến nội tiết, bệnh thận, chứng ngưng thở trong lúc ngủ (sleep apnea), dùng thuốc ngừa thai, dùng các thuốc giảm đau loại chống viêm không có chất steroid (nonsteroidal antiinflammatory drugs như Celebrex, Ibuprofen, Naproxen, ...) lâu ngày, v.v..
Biến chứng của cao áp huyết
Bệnh cao áp huyết nguy hiểm, vì không chữa trị, sẽ làm hại cơ thể chúng ta nhiều cách. Áp huyết cao hơn bình thường khiến tim và các mạch máu phải làm việc nhiều hơn. Con tim lúc nào cũng gắng sức, sau trở thành mệt mỏi, và yếu dần. Cho đến một lúc, con tim suy yếu sẽ không còn bơm đủ máu, không đáp ứng được nhu cầu của các cơ quan trong cơ thể, nhất là khi người bệnh vận động, gây các triệu chứng mau mệt, choáng váng, khó thở, ..., nhất là khi vận động.
Áp suất cao trong các mạch máu có thể làm tổn thương thành của các mạch máu. Những chỗ tổn thương trong lòng các mạch máu dễ bị chất mỡ cholesterol và các tế bào tiểu cầu (platelet) luôn luôn có sẵn trong máu bám vào. Cơ chế dây chuyền này lại càng làm lòng các mạch máu tổn thương thêm nữa và dần dần nhỏ hẹp lại. Bạn tưởng tượng, nếu các mạch máu dẫn máu đến nuôi tim càng lúc càng tổn thương và nhỏ hẹp lại, dĩ nhiên đến một ngày nào đó, sẽ không còn mang đủ máu đến để nuôi tim. Nếu một phần tim thiếu máu nuôi trầm trọng, phần tim đó có thể chết và gây ra hiện tượng chết cơ tim cấp tính (heart attack).
Tương tự, cao áp huyết làm tổn thương các mạch máu nuôi óc, nuôi thận, nuôi mắt, ... gây các biến chứng tai biến mạch máu não (stroke), suy thận, giảm thị giác, ... So với người thường, người cao áp huyết, nếu không chữa, dễ bị bệnh hẹp tắc các động mạch vành tim (coronary artery disease) khiến tim đâm thiếu máu nuôi (ischemic heart disease) gấp 3 lần, dễ suy tim gấp 6 lần, và dễ bị tai biến mạch máu não gấp 7 lần.
Những trường hợp áp huyết quá cao (từ 180/120 trở lên) và người bệnh có triệu chứng, có thể nguy đến tính mạng ngay, cần được chữa trị cấp kỳ.
Tìm hiểu các cách chữa trị bệnh cao áp huyết
Cao áp huyết cần được chữa trị cẩn thận, để giảm thiểu những biến chứng, giúp ta sống lâu hơn và vui hơn. Sự chữa trị tùy vào mức độ của căn bệnh và cũng tùy vào nhiều yếu tố khác. Nói chung, với người dưới 80 tuổi, mục tiêu chữa trị là đưa áp huyết xuống dưới 140/90.
Chữa bệnh cao áp huyết có hai cách: cách chưa cần dùng đến thuốc (nonpharmacologic therapy) và cách chữa bằng thuốc (pharmacologic therapy).
Chữa chưa cần dùng thuốc
Trừ khi áp huyết lên cao quá, từ 160/100 trở lên, cần chữa trị sớm, những trường hợp cao áp huyết nhẹ, chưa làm hư hoại cơ quan nào trong cơ thể, chúng ta có thể chữa bằng các phương cách chưa dùng đến thuốc trong vài tháng.
Các phương cách chữa trị chưa dùng đến thuốc: xuống cân nếu béo mập, ăn một thực phẩm ít mặn và ít chất béo, bỏ thuốc lá, bớt uống rượu, thường xuyên vận động (ít nhất 30-45 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày mỗi tuần).
Mỗi người chúng ta có một sức nặng lý tưởng so với chiều cao và vóc người. Nếu người cao áp huyết có sức nặng trên sức nặng lý tưởng, bác sĩ thường khuyên người bệnh tìm cách xuống cân bằng ăn kiêng (diet) và vận động (exercise). Rất nhiều trường hợp cao áp huyết, khi người bệnh béo mập xuống cân, áp huyết dần xuống dưới 140/90.
Chữa với thuốc
Chữa vài tháng với những phương cách chưa dùng đến thuốc như trên, nếu áp huyết vẫn không xuống dưới 140/90 như mong muốn, chúng ta cần dùng đến thuốc uống để chữa bệnh.
Về mặt chữa bằng thuốc, có rất nhiều điều bác sĩ cần suy tính trước khi đặt bút biên toa. Ta cố đưa áp huyết xuống dưới 140/90 (ở người tiểu đường, người có bệnh tim mạch, người suy thận, nên dưới 130/80), với một thuốc rẻ, không gây tác dụng phụ (side effects), không ảnh hưởng đến các bệnh khác chúng ta đang mang, ngày dùng chỉ một lần cho tiện.
Thuốc chữa cao áp huyết ở Mỹ hiện có 8 loại chính: Diuretics, ACE inhibitors, Angiotensin II receptor blockers, Calcium channel blockers, Beta blockers, Alpha blockers, Direct vasodilators, Centrally acting agents, tác dụng theo những cơ chế khác nhau, giá cả cũng rất khác, có thuốc rẻ, có thuốc đắt. Thuốc nào cũng có mặt lợi và bất lợi, những tác dụng phụ của nó.
Nhiều thuốc cao áp huyết có tác dụng chữa được cả bệnh khác nữa, chẳng hạn các thuốc Atenolol, Propanolol, Timolol ngừa được các cơn nhức đầu một bên migraine; hai thuốc Hytrin, Cardura làm giảm các triệu chứng của bệnh to nhiếp hộ tuyến, khéo dùng thuốc, ta có thể một ná bắn hai chim, dùng một thuốc chữa cả hai bệnh. Rồi có thuốc như các thuốc trong hai nhóm ACE inhibitors, Angiotensin II receptor blockers tốt cho thận khi chúng ta bị tiểu đường, nên nếu đang có tiểu đường, nay thêm bệnh cao áp huyết, bác sĩ thường thử các thuốc này để chữa cao ap huyết cho chúng ta trước.
Thường bác sĩ chữa bằng một thuốc, nhưng nếu một thuốc không kiểm soát được áp huyết của chúng ta, bác sĩ sẽ dùng đến thuốc thứ hai, thứ ba. Hiện nay có nhiều viên thuốc phối hợp, trong chứa hai hay ba chất thuốc, rất tiện lợi khi chúng ta phải dùng đến hai hay ba thuốc để chữa bệnh.
Chúng ta nên uống thuốc đều như lời dặn dò của bác sĩ, không nên tự thay đổi lượng thuốc hoặc ngưng thuốc khi thấy áp huyết đã xuống lại bình thường, và nhớ trở lại tái khám đúng hẹn với bác sĩ. Cao áp huyết là bệnh kinh niên, suốt đời ta cần chữa kỹ.
Sự chữa trị nào trong y khoa cũng là tính toán, dò dẫm, chúng ta nên để bác sĩ có dịp xem chúng ta vài lần. Dùng một thuốc cao áp huyết không hợp, gây tác dụng phụ khó chịu, chúng ta nên trở lại cho bác sĩ biết, nhờ bác sĩ điều chỉnh sự chữa trị, bớt thuốc hoặc đổi sang một thuốc khác. Chúng ta chớ vội nghe rỉ tai: “Thuốc tây nóng lắm, chả nên dùng” (như thế thì... tội cho thuốc tây lắm, một thuốc rủi làm chúng ta khó chịu, hàng trăm thuốc khác chịu hàm oan), rồi mất tiền vào những chữa trị chẳng có sách vở nào nói đến, cho đến một sáng đẹp trời, chúng ta mở mắt thức dậy, thấy một bên người liệt vì tai biến mạch máu não. Muộn mất rồi.)
Cao áp huyết, “căn bệnh thầm lặng”, lặng lẽ làm tổn thương các cơ quan của cơ thể và rút ngắn tuổi thọ chúng ta, có khi đưa đến “heart attack” (chết cơ tim cấp tính) gây tử vong bất ngờ. Sự chữa trị bệnh cao áp huyết cần rất nhiều tính toán và thường xuyên theo dõi bởi bác sĩ. Chúng ta chớ nên tự chữa lấy ở nhà với thuốc của người thân quen cho. (Ngược lại, vị nào đang dùng thuốc cao áp huyết cũng không nên chia thuốc cho người khác, nhưng khuyên họ đi khám bác sĩ).

Y Khoa : Muốn tránh một cơn đau tim (heart attacks)

BS. Vũ văn Dzi


Một cơn đau tim cấp tính (acute heart attack) là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở Mỹ và các nước Tây Phương và gần đây tại cả những nước Á châu khi nếp sống và lối dinh dưỡng gần giống nhau do hiện tượng công nghiệp hóa xã hội trên khắp thế giới.
Riêng ở Mỹ mỗi năm có khoảng 1 triệu rưỡi cơn đau tim mà khoảng 1/3 sẽ chết lần đầu tiên và số còn lại sẽ bị những cơn đau tim khác trong tương lai hoặc nếu không thì cũng sẽ bị những tổn hại khác sau này dẫn đến suy tim như trường hợp của cựu Phó Tt Dick Cheney hiện nay đang sống ngắc ngoải chờ ngày được ghép tim (heart transplant).
Một cơn đau tim xảy ra khi động mạch vành (coronary artery) đã bị sơ cứng do hiện tượng thành mạch máu bị đóng bởi những tảng calcium, cholesterol rồi bị rách tạo nên một cục máu đông làm tắc nghẽn mạch máu rồi dẫn đến một cơn đau tim vì cơ tim bị thiếu máu (acute myocardial ischemia) bất ngờ trong khi đang hoạt động bình thường.

Những yếu tố dẫn đến một cơn đau tim (trigger events)
Những nguyên nhân của chứng bệnh sơ cứng động mạch vành đều đã được khảo cứu rất nhiều và chứng minh rõ ràng qua những khảo cứu lâu đời và chính xác của kế hoạch Framingham study của Đại Học Harvard từ hơn 50 năm qua. Đó là chứng cao huyết áp, hút thuốc lá, cholesterol lên cao, stress, bệnh tiểu đường, suy nhược thần kinh, di truyền, thiếu hoạt động thể dục, viêm thành động mạch..
Gần đây các BS Bỉ đã khảo cứu và đăng trên tờ báo Lancet những yếu tồ nào dẫn đến một cơn đau tim cấp tính ở những người có sẵn những chứng bệnh kể trên và trong trường hợp nào thì dễ xảy ra.

1/ Thứ nhất là lái xe hơi
Khoảng 8 % những trường hợp đau tim cấp tính xảy ra trong khi lái xe nhất là nếu bị kẹt xe, xa lộ đông đúc làm cho người lái xe và cả người bên cạnh bị stress, tinh thần căng thẳng và hít phải khói gây ô nhiễm. Đã có nhiều thống kê cho biết là tại những thành phố lớn như Los angeles, Houston, New York.. có nạn kẹt xe và không khí ô nhiễm thì tỷ lệ tử vong vì đau tim cao hơn. Nếu có thể thì nên lái xe vào những lúc ít kẹt hay dùng phương tiện chuyên chở công cộng hoặc gần đây có thể làm việc ở nhà, telecommuting thay vì phải lái xe đến sở làm. Những tật xấu của một số người lái xe hay nóng tính, vội vã, ưa chen lấn cũng đễ gây đau tim cho tất cả mọi người..

2/ Vận động quá sức (severe exertion)
7 % những cơn đau tim xảy ra khi một số người ít hoạt động bỗng nhiên phải làm một công việc nặng nhọc bất thường như xúc tuyết vào mùa Đông hay quét lá vào mùa Thu hay tập thế dục quá mức trong khi cơ thể chưa quen. Một số những người có sẵn bệnh tim mạch mãn tính như cao huyết áp, ít hoạt động thể dục (sedentary lifestyle) mà phải làm những công việc nặng nhọc bất thường thì rất dễ bị một cơn đau tim. Vì thế cần có một chương trình thể dục đều đặn như đi bộ mỗi ngày 30 phút hay càng nhiều càng tốt và nên nhờ BS gia đình kiểm điểm trước khi tập luyện thể chất.
Nên tránh làm việc nặng nhọc vào buổi sáng khi cơ thể chưa quen mà nên đợi khi có nắng ấm. Nếu cần phải xúc tuyết vào buổi sáng trước khi đi làm thì nên nhờ hay thuê người xúc tuyết hay hốt lá giùm nếu tình trạng sức khỏe không cho phép. Nên tránh những thay đổi thời tiết bất thường như trong nhà ấm ra đường vào mùa Đông hay có gió lạnh cũng dễ gây 1 cơn đau tim vì làm cho động mạch vàng bị co thắt bất thường. Trước đây ở Việt Nam thường gọi những trường hợp này là "bị trúng gió" nhưng thật ra là một cơn đau tim cấp tính hay tai biến mạch máu não do xơ cứng động mạch. Vào lúc đó Y học Việt Nam chưa có đủ phương tiện chẩn đoán chính xác nên thường đổ cho là bị.. trúng gió! Những người chỉ chơi thể thao cuối tuần và nhất là có tính chất tranh đua như chơi tennis, chạy đua dễ bị đau tim vì cơ thể chưa quen. Nên cần có một thời gian gọi là warm up trước khi có những hoạt động bất thường.

3/ Rượu
Chất alcohol trong rượu làm cho các động mạch bị viêm và sau một bữa tiệc rượu quá chén thì dễ gây ra một cơn đau tim. Khoảng 5 % những cơn đau tim thường xảy ra sau một bữa tiệc thịnh soạn, rượu thịt quá nhiều. Trước đây Y học Mỹ thường gọi một cơn đau tim là bị "trúng thực" (indigestion) thì thường xảy ra sau một bữa ăn uống có nhiều rượu.
Nhưng nếu rượu uống một ít khoảng ½ chén nhỏ thì tốt cho hệ thống tim mạch vì làm tăng chất HDL trong máu và chất polyphenols trong rượu có tác dụng bảo vệ cơ tim.

4/ Ô nhiễm không khí và môi sinh
Khoảng 4% những trường hợp đau tim cấp tính do ô nhiễm không khí như smog, ozone, khói xe hơi, khói công nghiệp hóa chất và ngay cả khói nấu bếp hay do các hóa chất tại nơi làm việc gây ra ví dụ như các hóa chất benzene, acetone tại những tiệm nails, sơn sửa móng tay. Những hóa chất làm cho thành động mạch bị viêm hoặc co thắt bất thường dẫn đến đau tim.
Dĩ nhiên khói thuốc lá là nguyên nhân nguy hiểm và thông thường nhất là hiện tượng hít phải khói thuốc gọi là second hand smoking gây ra khoảng 50000 trường hợp đau tim mỗi năm cho những người không hút thuốc.
Có thể dùng những máy lọc không khí hoặc trồng những loại cây có tác dụng lọc không khí tại nơi làm việc gọi là houseplants như loại pothos, ivy, philodendron, peace lily. Nếu có thể thì nên tránh những thành phố có nhiều ô nhiễm hay công nghiệp hóa chất như Houston, Los angeles, Dallas, Denver..

5/ Cảm xúc..
Tất cả những loại cảm xúc tốt cũng như xấu (positive and negative emotions) đều có hại cho cơ tim và các mạch máu cũng như làm cho tim đập không đều.
Những cảm xúc xấu như tức giận, phiền muộn rất dễ gây đau tim vì làm cho tim đập mau hơn, não bộ tiết ra nhiều chất adrenaline, cathecholamines dẫn đến một cơn đau tim. Ngoài ra còn làm cho động mạch vành bị co thắt và tắc nghẽn. Những cảm xúc do các trận đấu thể thao chuyên nghiệp (NBA, NFL, bóng đá..) dễ gây cảm xúc cho những người hâm mộ thể thao dự khán (spectator sport) và dẫn đến một cơn đau tim. Ngay cả những cảm xúc tốt như trúng số độc đắc hay bất cứ điều gì làm cho vui buồn quá mức đều dẫn đến một cơn đau tim. Cần tập những kỹ thuật tránh nóng giận (anger management) và những phương pháp tĩnh tâm, cầu nguyện của một số tín ngưỡng.
Cũng cần hiểu rằng những trận đấu bóng chuyên nghiệp ở Mỹ chỉ là một trò giải trí hay đúng hơn một thứ business và nhiều trận được sắp xếp từ trước nên không có gì đáng quan tâm hay lo lắng một cách không cần thiết..vì ở Mỹ business là business, ngoài ra không có gì đáng kể cả..

Y Học : MỘT HY VỌNG MỚI CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH UNG THƯ

MỘT HY VỌNG MỚI CHO NHỮNG NGƯỜI BỊ BỆNH UNG THƯ: ÁP DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ BẰNG SINH TỐ D.
 
Chu Tất Tiến.
 
Trong tuyển tập nghiên cứu về bệnh Ung Thư (Critical Reviews in Oncology Hematology) được ấn hành bởi Elsevier, nhà xuất bản lớn nhất thế giới về khoa học và y khoa, có một chương nói về cách điều trị và phòng ngừa ung thư của hai Giáo Sư Y Khoa người Việt Nam: Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh và Bác Sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan.
Bác sĩ Lương Vinh Quốc Khanh là Hội Viên (Fellow) của 6 trường Đại Học về Chuyên Khoa Y Khoa và 1 trường Đại Học Y Khoa Anh Quốc. Ông là Giáo Sư Thỉnh Giảng của Đại Học Y Khoa UCLA, Giáo Sư của trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.
Bác sĩ Nguyễn Thị Hoàng Lan là Hội Viên của 3 trường Đại Học Chuyên Khoa Y Khoa và là Giáo Sư trường USC, Keck School of Medicine, Los Angeles.
Nhân một cơ hội được đọc chương về Cách Dùng Sinh Tố D để trị Bệnh Ung Thư nói trên, người viết đã làm một cuộc phỏng vấn ngắn ngủi với Giáo Sư Bác Sĩ Lương Vinh Quốc Khanh.
-H: Xin bác sĩ cho biết nguyên nhân nào dẫn tới việc nghiên cứu về Sinh Tố D để trị và ngăn ngừa bệnh ung thư.
-Đ: Tôi đã nghiên cứu về sự liên hệ của sinh tố D và bệnh ung thư từ 20 năm nay. Tôi đã từng hợp tác nghiên cứu với một giáo sư nổi tiếng về Sinh tố D của Mỹ. Lý do dẫn tôi tới việc nghiên cứu này là một khám phá tình cờ. Trong lúc điều trị cho những người Việt Nam bị bệnh ung thư, tôi nhận thấy những bệnh nhân này có một đặc điểm chung là cùng thiếu Sinh tố D. Trước đó, tôi đã chia xẻ điều khám phá này với các vị thầy cũng như đồng nghiệp của tôi nhưng rất ít người đồng ý với ý kiến của tôi, có khi còn cho ý kiến ngược lại. Tôi nhớ khi tôi còn ở Đại Học UCLA và bắt đầu nghiên cứu về sự liên hệ giữa sinh tố D và căn bệnh quái ác này, ông thầy tôi gọi điện thoại cho tôi, chê trách là tôi không hiểu gì về sinh tố D cả. Ông thầy cho rằng người dân ở California không bao giờ thiếu Sinh tố D. Nhưng kêt quả thực tế do tôi khám phá là các người bệnh ung thư ở California đều thiêu sinh tố D. Mãi sau này, ông thầy tôi mới xin lỗi vì không bao giò ông nghĩ là các bệnh nhân ung thư đều thiếu sinh tố D.
-H: Điều đáng mừng là sinh tố D có thể mua tại bất cứ dược phòng nào, phải không?
-Đ: Thật ra không phải cứ là sinh tố D thì có thể mua tự do tại các dược phòng. Có nhiều loại sinh tố D. Loại sinh tố D dùng để chữa bệnh ung thư phải có toa bác sĩ mới mua được. Loại cần toa bác sĩ này tốt gấp 10 lần các loại thông thường. Mấy loại mua ngoài chợ không có giá trị. Bản thân tôi khi chữa trị cho người mắc bệnh ung thư, đều dùng loại cần toa bác sĩ. Yếu tố này, thoạt đầu, cũng không được các đồng nghiệp khác đồng ý. Ngay chính ông thầy tôi cũng phản ứng khi được biết tôi chuyên dùng loại sinh tố D cần toa bác sĩ. Ông Thầy tôi cũng thắc mắc hỏi tại sao tôi chỉ cho toa mua loại này, sao không cho họ xài loại bán ngoài chợ. Các khảo cứu sau này cho thấy chỉ có loại sinh tố D cần toa bác sĩ, vì chỉ có loại ấy mới bám vào tế bào và tác dụng trên tế bào ung thư.
-H: Khi tôi còn đi học, tôi được nghe nói là các yếu tố tiền sinh tố D nằm dưới da, có đúng không?
-Đ: Đúng thế, các yếu tố tiền sinh tố D3 nằm dưới da. Nhờ tia ultra violet của mặt trời, các yếu tố này biến thành 25-sinh tố D3. Các chất 25-sinh tố D3 này vào tới thận biến thành 1,25-sinh tố D3. Chính 1,25-sinh tố D3 này mới có tác dụng trên cơ thể. Chất tiền 24,25-sinh tố D3, nếu không tiếp xúc với ánh sáng mặt trời thì không thể biến thành 1,25-sinh tố D3. Nhưng cũng có trường hợp luôn ở dưới ánh nắng mặt trời nhưng vẫn thiếu sinh tố D3. khỏang 1/3 đến phân nửa dân số sinh sống ở Sub-Sahara Phi Châu và Trung Đông được xem là thiếu sinh tố D. Như những người da đen, họ thường thiếu sinh tố D vì da họ đen quá làm cản tác dụng biến tiền sinh tố D thành sinh tố D3. Mũ che nắng, Sunblock cũng cản tia tử ngoại (UV) nữa. Da của người lớn tuổi cũng cản tia tử ngoại. Tế bào da của người lớn tuổi cũng không phát triển, thì người lớn tuổi cũng sẻ thiếu sinh tố D.
-H: Còn yếu tố nào làm thiếu sinh tố D không?
-Đ: Người Việt Nam thường bị viêm gan, các tế bài gan giảm đi, thi việc thay đổi từ 25-sinh tố D sang 1,25-sinh tố D3 cũng giảm đi. Đau thận cũng làm giảm thiểu sự biến hóa 1,25-sinh tố D3. Một điều cần lưu ý là có nhiều người phơi nắng rất nhiều cũng thắc mắc tại sao tôi thiếu sinh tố D. Phơi nắng nhiều quá, thì lại làm một lớp da ngoài bị cháy đi, biến thành lớp cản không tiếp nhận tia hồng ngọai tuyến (UV) nữa. Do đó việc đem người bệnh ung thư đi phơi nắng cũng gặp môt trở ngại là không biết độ nắng là bao nhiêu thì tốt.
-H: Bác sĩ có thể nói thêm về quan hệ giữa sinh tố D và bệnh ung thư như thế nào được không?
-Đ: Sinh tố D liên quan đến ánh nắng mặt trời. Vùng nào nhiều ánh nắng mặt trời thì ít ung thư. Vì thế những vùng càng xa xích đạo bao nhiêu thì càng thiếu sinh tố D, như vùng cực bắc âu thì thiếu sinh tố D rất nhiều, Người ta thấy có một liên hệ mật thiết giữa sinh tố D và bệnh ung thư, những người thiếu sinh tố D thì có tỷ lệ bị ung thư cao hơn người có nhiều sinh tố D. Như ở Norway,

Y Hoc : Tự Điển Y Khoa

A
Ánh sáng ở mọi nơi - BS Thái Minh Trung .

B
Bệnh do thức ăn nước uống - BS Nguyễn Văn Đức .
Bệnh tả ( cholera )
Bệnh run Parkinson
Bệnh suyễn - BS Nguyễn Văn đức
Bệnh tiểu đường - BS Nguyễn Văn đức
Bệnh trầm cảm - BS Nguyễn Văn đức
Bệnh vảy hồng
Bệnh xốp xương
Bệnh cường giáp trạng
Bệnh cảm - BS Nguyễn Văn Đức
Bệnh trái rạ - BS Nguyễn Văn đức
Bệnh trầm cảm - Bác sĩ Thái Minh Trung
Bệnh mụn mặt - Bac Sĩ Nguyễn Văn Đức
Bệnh cúm heo,những điều cần biết - BS Ngô Phùng Hy
Bệnh khớp thoái biến
Bệnh viêm màn gân lót bàn chân ( Plantar Fascitis )
Bệnh mất ngủ kinh niên - Bác Sĩ : Nguyễn Minh Trung
Bệnh viêm gan C - Bác sĩ Nguyễn văn Đức
Bệnh viêm gan B
Bí quyết giữ mức huyết áp
Biến chứng mắt
Biến chứng tiểu đường
Bỏ thuốc lá có muôn lợi
Bướu thịt tử cung ( Uterine myomas ) - BS Nguyễn Văn Đức

C
Các biến chứng của bịnh tiểu đường
Cà rót , nhân sâm của người nghèo
Các thuốc chống đau - Bác sĩ Nguyễn Văn ĐứcCác thuốc chữa trị di ứng mủi
Cách chữa trị nghiện hóa chất - BS Thái Minh Trung
Chocolate có tác dụng ngăn ngừa đau tim
Cholesterol tốt , cholesterol xấu
Chọn giày
Chữ trị tiểu đương : ăn kiêng , vận động
Chữa trị và phòng ngừa tai biến mạch máu não - Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức
Chúc mừng năm mới
Chúc mừng năm mới (tiếp theo)
Coi chừng sức khõe
Cúm heo - BS Nguyễn Văn Đức

D
Da mùa lạnh
Đậu nành và cá giúp giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư
Đau vai - BS Nguyễn Văn Đức
Dị ứng thuốc và phản ứng thuốc
Dùng thuốc cho các vị cao niên
Dư Vitamin A có hại cho xương
Duy trì sức khoẻ các vị cao niên

G
Gãy xương hông ở các vị có tuổi - BS Nguyễn Khắc Đoan.
Giận và chiến tranh - BÁC SĨ THÁI MINH TRUNG .
Giáo dục trẻ con bằng tĩnh lặng

H
Hạ thấp quá đ1ng chỉ số cholesterol trong máu
Hiểu biết khoa học mới nhất về Tâm Tĩnh Lặng - BS Thái Minh Trung.
Ho
Hòa nhập dòng y khoa Mỹ
Hôi miệng

K
Kham ngừa bịnh khi có medicare - BS Nguyễn Văn Ðức
Khạc ra máu
Khám tổng quát
Khí lạnh mùa Đông
Không nên lạm dụng kháng sinh.
Kinh nghiêm về Heart attact

L
Lanh quá ! Lạnh quá ! BS Nguyễn Văn Đức

N
Năm loại thức ăn làm giảm cholesterol - Bác Sĩ Nguyễn Thị Nhuận
Ngứa mùa Đông (Winter itch) - Bác sĩ Nguyễn văn Đức
Nghiện hóa chất - Bác Sĩ Thái Minh Trung
Nên uống thuốc với nước gì - Dược sĩ Nguyễn Hữu Đức
Ngừa và truy tìm - Bác sĩ Nguyễn văn Đức
Ngừa sưng phổi : Pneumococcus - Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức
Ngừa cúm 2010 - 2011 - BS Nguyễn Văn đức
Ngừa cúm 2008 - BS Nguyễn Văn đức
Những nguy cơ gây bệnh tim mạch
Nổ mề đay
Những mãnh đời bõ lại - Bác sĩ Thái Minh Trung
Nhiễm trùng bàng quang - Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức

P
Phòng ngừa ung thư ruột già

R
Rụng tóc
Rung tâm nhĩ ( Các vị cao niên cần đọc bài nầy )

S
Sưng phổi (Pneumonia) - Bác Sĩ Nguyễn văn Đức
Sưng ruột dư ( Appendicitis ) - BS Nguyễn Văn Đức
Sức khỏe là vàng - Bác sĩ Nguyễn Văn Đức

T
Tai biến mạch máu nảo - Bác Sĩ Nguyễn Văn Đức
Thái độ trước sự hóa già - BS Nguyễn Ý Đức
Tin vui cho những người cao Cholesterol
Trị bệnh mất ngủ kinh niên - Bác Sĩ : Nguyễn Minh Trung
Trụ sinh ( Antibiotic ) - BS Nguyễn Văn Đức

U
Ung thư phổi( Lung cancer ) - BS Nguyễn Văn Đức
Ung thư vú - Bác sĩ Nguyễn văn Đức
Ung thư ruột già ( colon cancer ) - BS Nguyễn Văn đức